.
  Họp bạn
 
3/8/2014

 

 

 

 

Lâm Thành Nghiêm

Chuông điện thoại reo. Tôi cầm ống nghe. Một giọng nói xa lạ “Nghiêm hả? Hồng Phước Tài đây. Còn nhớ không?”. Tôi kêu “ồ!” ngỡ ngàng. Từ ký ức sâu thẳm, một cái tên và một khuôn mặt quá khứ hiện về. Tài cho biết mấy chục năm nay sống định cư tại Mỹ, mới về nước và muốn tổ chức cuộc họp mặt cùng bạn bè cũ ngày xưa, mời tôi lên Sài Gòn tham dự. Trong nỗi xúc động bất chợt, tôi ừ ừ hứa hẹn sẽ đi.

Gác máy xuống, hình ảnh người bạn xưa rõ nét hơn. Tài dáng người cao, da ngăm, tính trầm tỉnh, có nụ cười sáng rỡ. Ngày ấy, nơi trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc, tôi với Tài học cùng khóa, ở cùng lưu xá C nhưng khác ban, khác phòng nên chẳng thân lắm. Sau về Sài Gòn càng ít gặp, rồi thời cuộc biến đổi, mỗi người mỗi nơi. Thấm thoắt mà đã hơn 40 năm, biết bao vật đổi sao dời, biết bao số phận nổi chìm. Đời người sắp cạn.

Mấy ngày sau cái ý muốn lên tham dự tan mòn, nhạt hứng. Ấn tượng về những cuộc họp bạn nhạt nhẽo vô vị. Hiện nay, có rất nhiều cuộc họp được tổ chức, nào là họp bạn cùng trường, cùng đơn vị, họp người đồng hương, đồng họ tộc v.v… Nhưng hình thức thì nhiều mà nội dung, ý nghĩa chiều sâu ít có. Chỉ là cuộc hội tụ ồn ào, níu kéo gượng gạo cái quá vãng đã qua, cố moi móc kỷ niệm tìm lấy thân tình mà chưa hẳn ngày xưa đã có!

Nhớ lần tham dự họp bạn đầu tiên sau năm 1975 vài năm, đó là nhóm bạn thời niên thiếu (từ đệ thất đến đệ tứ) cùng quê hương. Ba lớp đệ thất ngày ấy có hơn 150 người, nay chỉ còn 20 người đến dự. Chiến tranh và cuộc đời lắc sàng nghiệt ngã để còn đọng lại trên nia những khuôn mặt lạ lẫm hôm nay. Hồi tưởng điểm danh: đứa chết trận bên này, bên kia (cùng chết vì bom đạn mà danh gọi cho cái chết lại khác xa), đứa bỏ xứ ra đi, đứa không còn biết tin liên lạc, đứa không muốn đến vì mặc cảm cách biệt địa vị giàu nghèo và nhiều đứa quên hẳn, không còn hình dung nhớ lại. Vồn vã ôm nhau, tía lia thăm hỏi. Anh trưởng công an huyện choàng vai anh cảnh sát cũ, anh chủ tịch siết tay anh đại uý Cộng hoà. Bề ngoài thắm thiết nhưng trong lòng còn vướng víu e dè, thậm chí anh có chức quyền ngần ngại chụp chung hình với anh sĩ quan cũ. Học chung cùng lớp tròm trèm cách nhau 2, 3 tuổi đời nhưng có kẻ tự cho mình là huynh trưởng, là xúc phạm khi bạn gọi mày tao. Lại lộ bộ mặt kẻ dựa hơi, cố gắng bắt chuyện làm thân người quyền thế. Sau màn tâm sự xã giao là cuộc ăn nhậu ồn ào. Mọi người tranh nói, tranh mời rượu, phát ngôn loạn xị xà bần… Cuối cùng ngã nghiêng tan cuộc! Những ngày sau có gặp nhau trên đường cũng chỉ cái gật đầu đãi bôi hời hợt. Thế đó! Chẳng có ý nghĩa thân tình gì, nên những lần mời họp về sau, tôi đều từ chối.

*      *

 

Hai cuộc điện thoại của Nê và Thuyết (cùng khoá với tôi và Tài, thỉnh thoảng chúng tôi còn gặp nhau) bảo tôi cố gắng thu xếp để đi. Hai bạn cho biết có đứa tận miền Trung, vùng cao nguyên, cả miền Tây xa tít cũng về dự. Tài hỗ trợ chi phí đi lại cho những bạn còn khó khăn và Thuyết lo chỗ ăn nghĩ cho người ở xa về. Tôi nghĩ mình không nên phụ tấm lòng nhiệt tình, tha thiết như vậy và cũng nhận ra tình bạn Nông Lâm Súc Bảo Lộc khác hẳn nhóm học chung thời trung học đệ Nhất cấp. Thưở ấy, năm 1963 chúng tôi đã qua thời niên thiếu, bước vào tuổi mộng mơ nhiều ước vọng, cái tuổi đẹp nhất đời người. Khoá chúng tôi có hơn 100 người chia làm ba ban: canh nông, mục súc, thuỷ lâm. Tất cả xa nhà, ở khắp các vùng của mọi miền đất nước tụ lại, chỉ có vài bạn địa phương. Mì quảng, rau muống, ớt, giá sống với các giọng nói khác nhau cùng sống chung trong lưu xá trường, gắn bó sinh hoạt, học tập vui chơi nên nhanh chóng kết mối thâm tình. Lưu xá C dành cho học viên nam, có 12 phòng trệt và một phòng lầu, mỗi phòng có ba giường tầng ở được 6 người, chúng tôi chọn những bạn hợp “feu” ở cùng phòng với nhau. Ngôi trường rộng rãi, kiến trúc rất đẹp nằm giữa khung cảnh núi rừng thơ mộng, không khí lạnh lạnh sáng chiều đọng nhiều cảm xúc để cứ nhớ nhung lưu luyến.

Ở cái tuổi với những trò đùa tinh nghịch chọc phá vốn được xếp vào hàng thứ ba sau ma quỷ. Chính những điều ấy đã góp vào hành trang ký ức, làm nặng đầy kỷ niệm sau hơn 40 năm xa cách. Vâng, một trong những trò trêu chọc thưở ấy là đặt biệt danh cho nhau, nghĩa là ngoài cái tên cúng cơm trong khai sinh do cha mẹ đặt, bạn còn có thể phải mang theo một cái tên ngoài ý muốn. Mới đầu do một tên tếu táo nào đó khởi gọi, thấy hay hay nên lan truyền thành chết danh. Có điều cái biệt danh ấy được tồn tại và lan rộng thì phải thể hiện tính cách, dung dạng hay một sự kiện gắn liền với nhân vật phải mang biệt danh ấy. Ban đầu chẳng ai vui vẻ chấp nhận bởi cái tên thường thô kệch, xấu xí, xúc phạm tự ái gán cho mình. Nhưng phải chịu đựng cái “hùa” của tập thể rồi cũng qua đi, có khi về sau lại khoái trá được gọi như vậy vì nó gây được ấn tượng với bạn bè, làm cho bạn nhớ nhiều đến mình.

Lúc đầu Nguyễn Trung Bình (Thuỷ Lâm) giận dữ, rượt đánh những đứa dám gọi anh là “Bình khùng – Bình mát” và các bạn chỉ dám gọi “Hai Tốc” sau lưng Nguyễn Văn Hai (Mục súc). Hai biệt danh đó đã phản ánh đúng vài tính khí thất thường của hai anh. Trường hợp khác, Võ Văn Lành quê ở Tây Ninh, có chiếc mũi hơi cao giống Tây, anh em đặt cho cái tên “Paul Lành”. Khi gọi cố ý là “Bôn Lành”. Cũng người gốc Tây Ninh nữa là Trần Văn Thìa được gọi là “Robert Thìa”. Rồi Bùi Tho đọc lái lại “Bò Thụi”. Trong văn học có nhân vật nổi tiếng là Xuân tóc đỏ, còn như Tô Phùng Xuân mới ngần ấy tuổi mà tóc đã bạc phơ nên có biệt danh là “Xuân tóc bạc”, Từ Văn Trường có giọng nói ồ ồ gọi là “Trường ồ”, Lê Minh Khôi người Bắc nói giọng eo éo có biệt danh là “Bắc kỳ Khôi”. Trần Văn Phước học Mục súc miệng hô, lộ cả răng có tên “Phước Yorshire” (yorshire là một dòng heo ngoại quốc). Lê Ngọc Bích tên như con gái, đầu lúc nào cũng láng, ỏng ẹo nên có tên là “Bích nũng”, Trần Văn Tám đại diện cho học viên lo chuyện cơm nước nên gọi là “Tám kinh tế” …

Tôi ở chung phòng với Trần Tấn Miêng, Phạm Thuyết, Trà Chơn Tâm và Trần Xuân Thành. Thành là chúa đặt biệt hiệu cho người khác, hắn gọi “Thuyết Khệu” vì có đôi chân vòng kiềng. Trà Chơn Tâm mang họ người Chàm nên có tên “Tâm Chàm”. Thành cũng được anh em tặng cho cái tên “Thành lùn”, quá dễ hiểu vì chiều cao khiêm tốn của Thành. Khoá tôi có nhiều anh lùn: Phước lùn, Thịnh lùn, Phú lùn, Bích lùn, Huân lùn, Kỳ lùn. Nếu có nàng Bạch Tuyết thì sẵn bảy chú lùn mà dựng kịch.

Chính Thành lùn sáng tác hai biệt danh “Say cha” và “Say con” khá đặc biệt vì không còn mang cái tên cúng cơm như người khác mà khi kêu lên ai cũng biết, cũng rõ người nào. Số là trong phòng tôi chơi thân với Miêng, thường đi chung với nhau như cặp bài trùng. Bấy giờ chắc có người nghĩ chúng tôi là hai tên đồng tính, vì cùng tuổi nhau nhưng tôi có khuôn mặt “sáng trai” hơn, còn Miêng thì mặt mày dáng dấp già đi trước tuổi. Có người bạn nhận xét cà khịa thế này: “Thường thì ai sinh ra, mới đầu đỏ hỏn gọi là hài nhi, lớn dần gọi là em bé, lớn nữa nếu con trai gọi là thằng nhỏ, sau đó là thanh niên, trung niên rồi lão già và chết. Còn thằng Miêng sinh ra đã già rồi nên lúc nào nó muốn chết thì giãy ra mà chết chứ đâu còn chỗ nào nữa để mà già”.

Vào những buổi chiều rảnh rỗi hay ngày nghỉ, tôi với Miêng thường rủ nhau ra quán cà phê hay quán nhậu bình dân, tôi hút thuốc và uống rượu. Vịn vào cớ buồn chán, nhà nghèo và bản thân chưa làm ra tích sự gì, tương lai mù mịt, tư tưởng bi quan ngầy ngụa… Tửu lượng tôi cao nên uống nhiều hơn và hẳn nhiên tôi đổ trước. Tàn canh, Miêng dìu tôi nghiêng ngả về lưu xá, tôi nằm giường tầng dưới, Miêng nằm tầng trên. Nó tỉnh nhanh và bắt đầu thuyết giáo, khuyên bảo là chúng mình phải sửa đổi, ráng học hành, lo cho tương lai… Tôi thì say quíu đầu, thần trí lãng đãng có nghe được gì, chỉ ừ ào. Trước cảnh tượng đó, Thành lùn ôm bụng cười hô hố và phán: Thằng “say cha” dạy thằng “say con”. Và biệt danh “say cha” dành cho Trần Tấn Miêng và “say con” dành cho tôi được bắt đầu như thế, không nhớ bắt đầu từ lúc nào nhưng nó đã chết danh và gắn liền theo chúng tôi mãi đến tận bay giờ….

……….

 

 
  Số lượt người đọc kể từ 1 July 2013: 189612 visitors (1393896 hits) on this page!  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=