.
  Đố ai bò xẻo mấy nơi
 
5/6/2014

 


         Một chút thơ làm duyên khởi

Ngày nay có gần 3 triệu người Việt Nam sống ngoài quê hương nên gọi là “Dân Việt Nam Hải Ngọai”. Một món nổi tiếng mà họ đã phổ biến khắp nơi theo buớc chân lưu vong của họ là “Phở”. Ở vùng Bắc Mỹ, nơi nào có cọng đồng Việt kể như là có ít nhất một tiệm phở. để không những dân Việt đến ăn mà còn thu hút khách Mỹ địa phương. Trước vài tiệm phở mở ra có thời, vào giờ ăn trưa, khách Mỹ phải xếp hàng dài đợi ăn.

Tuy nhiên, có một vấn đề khá ngộ là món phở là món quốc hồn quốc túy của Việt Nam, nhưng có thể nói danh từ về thịt bò của phở thì người mình chỉ ăn mà ít để tâm tìm hiểu. Do đó, tôi có làm một bài thơ cảm hoài sau theo ngẩu hứng:

Dăm vần Lục Bát :

Đố Ai !

Đố ai bò xẻo mấy nơi

Để ta gọi phở đãi chơi bạn bè!

Đố ai nhớ kể đủ nghe,

Để ta thưởng thức phủ phê cuộc đời!

Chín, tái, gân, nạm ai ơi,

Sách giòn, gầu béo muốn thôi hay ngừng?

Vè, vú, ngầu pín tưng bừng,

Hành dấm, nước béo em cưng nhớ dùm!

Ngò gai, húng quế tùm lum,

Tương đen, ớt đỏ bỏ chung tuyệt vời!

Giá sống tươi mát gọi chơi,

Ngọt thơm bùi béo kêu trời đã ghê!

Yêu nhau lạc nẻo sông Mê,

Việt Nam bát phở  mọi bề nhớ thương.

Đôi ta cách nẻo sông Tương,

Cùng húp  nước phở như dường bên nhau!

Chữ rằng: Quân tử hảo cầu

Bò ngon, phở béo ở đâu cũng tìm!

Phương trời lưu lạc cánh chim,

Việt Nam bằng hữu trong tim dạt dào

Tình quê lưu luyến làm sao,

Cùng ăn tô phở nôn nao giải bầy!

Cùng nhau ước hẹn một ngày

Ôm nhau vồn vã vòng tay nồng nàn!

Lê văn Lân

 

Sành ăn và tận dụng của trời cho!

Có người thắc mắc về nét ăn cầu kỳ của dân Việt trên miếng thịt bò: Tại sao phải đòi hỏi tỉ mỉ về những chi tiết trong một tô phở trong khi tô mì hay hủ tiếu của Tàu không như vậy, nào là chín, tái, gầu, nạm, gân , sách… nào là húng quế, ngò gai, giá sống, nào là  tương đen, ớt đỏ, chanh dấm …tùm lum.

Trong bài Luận về Phở đăng trên báo Quốc Gia số 52, tháng 7, năm 1996, ông Phạm Hồng Hà đã viết:

Theo những người lớn tuổi kể lại thì buổi đầu ở miền Bắc chỉ có phở bò chín. Nghĩa là cả xương và thịt đều được cho vào nồi ninh. Thịt bò làm phở chín cũng không cần chọn lọc gì cả. Gân cốt, bạc nhạc cho vào ninh nhừ vừa phải vớt ra đúng lúc để ráo nước, rồi thái mỏng xếp lên trên mặt trên của bát phở.

Làm bạn với quán phở không phải chỉ có những người cần ăn cho no để có sức “kéo cầy” hoặc trẻ em thì ấm bụng tới trường, mà còn có nhiều đệ tử lưu-linh. Những vị này vào quán phở thường gọithêm vài ly rượu trắng. Uống rượu mà không có cái gì sậm sựt thì cũng nhạt nhẽo. Thành thử mấy vị kêu chủ quán chọn cho miếng sụn, miếng thịt bắp có gân cốt để nhâm nhi. Lần  lần những bộ phận của con bò  như gân, gầu,sách được ooi như đặc sản của từng quán phở bò.

Đây cũng gọi là một sự giải thích đáng chú ý. Như vậy, về phương diện tuổi tác, miếng “chín” là miếng thịt hàng thủy  tổ trong bát phở thuở ban đầu thời còn mồ ma nhà văn Thạch Lam tác giả Ba mươi sáu phố phường, còn bao nhiêu “tái, nạm, gân, gầu v.v…” đóng vai vệ tinh châu tuần thì thuộc thế hệ hậu duệ trẻ trung mới được phát kiến về sau trong nghệ thuật ăn phở bò…

Theo tôi thì sự tình phát kiến đã bắt nguồn từ tinh thần tận dụng kiệm uớc của Á Đông… đi cùng với sự sành ăn. Vỏ quít, cùi bưởi còn biến chế thành trần bì nấu lục tầu xá, thành mứt!  Tim, lòng, gan, phèo phổi heo còn chế thành phá lấu. Ngay cả đống xương phở “xí quách” (còn gọi là món “cải mả”) cũng không đến nỗi quăng cho chó gặm trước khi cho bợm nhậu nhâm nhi. Do đó, bao nhiêu thứ bạc nhạc sao lại không thành món kỳ trân khoái khẩu nhĩ?

Việt Nam mình há chẳng có câu: Hết nạc vạc tới xương!  Gặm xương quả là môt cái thú đối với nhiều người Á Đông trong tinh thần “ tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”  và khi ăn vật thực của trời cho hay do công lao bàn tay kiếm ra thì luôn giữ tinh thần tận dụng : Ăn hết đánh đòn, ăn còn đánh chết!  Mẹ tôi thường răn dạy tôi trên mâm cơm nếu mà tôi vì tham ăn hóc uống không giữ ý tứ mà gắp lấy một miếng ngon thì cái tội là “bị đòn” vì vô lễ và không biết nhường nhịn, nhưng lỡ đã gắp ăn thì ăn cho hết, chớ có bỏ mứa thì phãi tội với trời đất, tội đó nặng vô cùng, kiếp sau đầu thai làm con vịt bòn ăn đồ thừa thãi bỏ đi.

Và một điều khác cũng cần biết là trong nét sành ăn vật ngon là  biết thưởng thức “ cấu trúc sơ thớ”(texture) của thực phẩm! Ăn một miếng Sandwich Mỹ bổ béo nhưng ỉu xèo, một miếng bít-tết  “tender loin”nhũn mềm như môi phụ nữ,  ngon thì có ngon nhưng cái ngon  đâu sánh bằng cái thú “nhai” và thưởng thức cái cứng giòn, cái dai dai, sừn- sựt“miệng nhai, tai nghe” của ổ bánh mì kẹp thịt VN hay gặm một khúc xương còn dính gân, nạm nhỉ? Do đó, ăn một tô phỡ Việt Nam đúng điệu  khác hẳn một tô súp Tây phương ăn khai vị chỉ dùng muỗng mà “húp”, vì bao nhiêu cơ bắp của hàm nhai ( masticator) trên mặt của người ăn tha hồ có dịp khai triển thi thố làm lông tóc thái dưong tưng bừng mở hội! Cái ngon phải đến từ răng nhai!

 

Một cục gân bằng mười cân thuốc bổ!

Nói đến kỳ trân thì trong tô phỡ Việt Nam, bên cạnh thịt thì có thêm thứ là “Vú sữa” và  “ Ngầu Pín” gọi là ăn theo kiểu tạng phũ liệu pháp (organotherapy), ăn gì thì bổ nấy hay chủ trương “ăn nên thuốc”

Vú bò cái là một kỳ trân của Phở Hòa  Pasteur trước 1975, ăn rất thơm và ngầy ngậy , nhưng hình như không sẵn vì lấy đâu ra đồ trân phẩm của bò cái đang nuôi cho con bú  cho những người phàm tục.  Tuy nhiên thì món ngầu- pín thì luôn luôn sẵn. ( Ở Hoa Kỳ, vô chợ Mỹ thì đôi khi có thể kiếm ra ngầu pín gọi là bull  pizzles, còn hòn dái bò gọi làbull fryes, giá rẻ khá hấp dẫn nhưng phải quen mặt và dặn trước)

Ngầu- pín tức là chữ Ngưu Tiên đọc theo âm Quảng Đông  (牛鞭), danh từ này còn gọi là Âm Hành khi nói đến trong sách thuốc (