.
  Phát triển Lâm Đồng ..P4
 
26/7/2014



Phần 4

Tài nguyên khóang sản

                                                                      

 Khóang sản tỉnh Lâm Đồng  xuất hiện vào thời đại khóang hóa  Đại Trung Sinh -  cuối Mesozoic cuối -  sớm Kainozoi và Kainozoi .  Thời kỳ khóang hóa Mesozoi cuối và  Kainozoi sớm  là lúc  magma hỏa diệm sơn tích cực  họat động, tạo ra và làm thành hình  một lọat khóang hóa Đà Lạt - Bảo Lộc.  Đặc điểm là khóang  hóa vàng Au, bạc Ag, thiếc Sn, wolfram W,  chì Pb, arsenic As và một số  kim lọai vật liệu xây dựng. Thời kỳ khóang hóa  Kainozoi vào lớp vỏ ( da)  làm ra những  vùng  lỗ lũng , giữa các núi và lớp basalt bao ngủ nới rộng. Thời kỳ này gồm có nhiều quặng  nội sinh hay ngọai sinh, giàu có và đa dạng như  bentonít, diatomit, châu báu - quý kim, sét, thiếc ,vàng,  khóang liệu wolframit, cát, sỏi, sạn và nước nóng. Phòng 6 Cục Địa Chất đã tổng kết cả thảy 165  lắng đọng - deposits khóang chất  gồm  23 mỏ lớn, 3 mỏ trung bình, 48 mỏ  nhỏ  và 91 lắng đọng quặng.  Lắng đọng  quặng và các mỏ chia ra làm 7 nhóm ở tỉnh Lâm Đồng : than đá , kim lọai, không kim lọai, vật liệu xây cất, châu báu - đá quý, chất phóng xạ bất thường, nước khóang và nước nóng.

    Trong số kim lọai, đáng kể nhất tỉnh  là  Nhom - Aluminium  với quặng bô xít - bauxite ore . Nhắc lại  hai tỉnh chánh Việt Nam có  nhiều quặng bô xít là Đắc Nông và Lâm Đồng  ở miền Tây Nguyên, chứa  tổng cọng chừng 5.4 tỉ tấn bô xít.  Các năm  2005 -2006,  Phân tích Khúc xạ X- ray - Diffraction Analysis cho thấy quặng  bô xít ở đây là gibbsite, lọai quặng các nhà máy tinh luyện aluminia  thích dùng nhất làm nguyên liệu chế biến. Các mẩu phân tích cho biết nồng lượng trung bình Al2O3 là 48. 40 % ở các  ven mạch  cách lớp đất mặt  chỉ từ 0.4 m đến 5.5 m  tối đa.  Dự trữ bô xít latêrít  tổng cọng ở Lâm Đồng là 1 114 triệu tấn, dưới sàn vỏ khóang hóa Túc Trưng. Các nhà khảo cứu Địa Chất  đã tìm ra 2 mỏ bô xít có gía trị khai thác thương mãi ở Tân Rai và Bảo Lộc và 6 quặng lắng đọng ở Riong Tho, Dankia, Lan Tranh và  phía tây Đèo Bảo Lộc, Sơn Điền và Gia Bạc .   

   Wolfram Lâm Đồng  là quặng womframit  kim lọai ở Lộc Bạc và các hàng dài cũng là Wolframit kim loại ở Lộc Lâm ; đã được khai thác từ lâu. Vàng( Kim)  Lâm Đồng là sa khóang- placer gold  ở lớp sỏi sạn  và vàng nguồn gốc - original gold. Vàng nguồn gốc thủy  nhiệt- hydrothermal   là quặng vàng - quartz , quartz - sulfide vàng và sulfur- vàng -  bạc. Tầng lớp quartz - vàng  chứa sulfur (  ít hơn 5 %)  khám phá ra ở mỏ vàng Đại Ninh  và các lắng đọng  quặng ở Man Ling, Sao Nam. Tầng lớp  quartz-sulfide vàng  phát triễn rộng rải hơn và nhiều hơn  ở mỏ vàng Trà Bang và các lắng đọng quẳng ở Xuân Thanh, Trại Hầm,  Phi Liêng v.v…    Tầng lớp  sulfur- vàng - bạc ở các đá phún hỏa diệm sơn  sàn Đơn Dương, nhưng chỉ khai thác  được lắng đọng vàng ở Tuy Sơn .  Vàng sa khóang tìm thấy ở  7 mỏ nhỏ, trong đó  vàng nguồn gốc  Trà Nang có dự trữ ước lượng là  652 Kg.  Dân gian đã khai thác  các mỏ nhỏ  Tây Sơn, Đầm Voi, Phi Liêng,  Đa Ding King , Da N’Bô , Da P’loa.  Khám phá ra  Thiếc ở 3 mỏ lớn : Núi Cao, Đa Thiện, Thái Phiên. Thiếc sa khóang có dự trữ là 1793 tấn SnO2.. Sắt Lâm Đồng phẩm giá xấu, gồm hai lắng đọng quặng ở Kon Tat và Liên Đàm. Lắng đọng Liên Đàm là  do latêrit-hóa olivine basalt của sàn Là Ngà, dưới đất latêrít đỏ, theo thể dạng  banh cứng rắn, xỉ - tro núi lữa phun, màu gạch đỏ, thể tích 2. 746  triệu tấn. Lắng đọng  Kon Tat là hệ thống  quartz-  hematit,  nguồn gốc thủy nhiệt. Quặng sắt ở đá granit phức tạp Cà Ná đã được  khai thác từ năm 1909.  Ở  phía Đông  vùng gãy,  dọc Phan Thiết và Di Linh, ước lượng chứa 6 750 tấn chì Pb.  Phía Tây vùng gãy Phan Thiết - Di Linh ước lượng chứa  101 220 tấn Chì.  Gia Bạc có những hệ thống đa lọai kim lọai - sulfur ( chì -  kẻm -  đồng- bạc - arsenic)  chứa chì - kẻm,  nguồ n gốc thủy nhiệt.  Lắng đọng  Antimoan Lâm Đồng là ở vùng Tiên Hòang ( Cát Tiên ).  Các yếu tố kim lọai chung với antimoan là Ag, Pb , As , Sn , Cu , Zn.  Dự trữ ước lượng là 25 000 tấn.

   Không  kim lọai-non metallic  là  cao lanh- kaolin có 2 mỏ lớn ở Trại Mát và Prenn, cùng  các lắng đọng  ở B’ Nam, thôn ấp Teurlang Tho, Ngọc Sơn, Lạc Nghiệp ; trử lượng trên 127 triệu tấn. Felspat Lâm Đồng   nguồn gốc pegmatit.  Khám phá bentonit ở mỏ  Tam  Bò và 3 lắng đọng  ở Đăn Kri,  Đa Le và Di Linh. Riêng sàn Di Linh  có trử lượng trên 11 triệu tấn. Diatomit cũng nhiều ở trầm tích hồ của Di Linh trử lượng gần 64 triệu m3 . Vật liệu xây cất  thô  là sét và mácnơ-sét vôi ( marl, marne)  . Đã khám phá ở tỉnh nhà  3 mỏ sét lớn, 3 mỏ nhỏ và 9 lắng đọng sét, trử lượng là 146.5 triệu m3 . Mác nơ  rất hiếm ở Lâm Đồng, bề dày ít khi quá 1m, ở sàn  đèo Bảo Lộc. Ngòai ra còn tìm thấy mác nơ ở hai lắng đọng tại Đơn Dương .

  Về châu báu và qúy kim , trước tiên phải kể đến ngọc xanh xa phia - sapphire  ở gần đèo Bảo Lộc, ở trong đá granit Phức Tạp Định Quán  và ở hai mỏ Tiên Cơ, Sa Vo cùng 4 lắng đọng  quặng ở Lâm Hà,  sông KrongKlet, Xuân Trường, Sơn Điền. Mỏ Tiên Cơ  có dự trữ 678.2 Kg . Nồng lượng xa phia là 3. 55- 12g/m3 . Xa phia Lâm Đồng màu  xanh lục lợt đến đậm xanh , phản chiếu  cao. Xa phia thương mãi  có thể lên đến tỉ xuất 1,.7 %, hột nặng trên 6 ca ra- carats. Ngọc quartz topaz   tìm ra năm 1991  ở lắng đọng dòng sông vùng xã Lộc Tân. Quartz Sửa - Milky  màu sửa, trắng,  xám khói và kích thước từ  vài cm lên đến 40 cm.  Quartz này hình  lăng kính - prismatic.  Tinh thể quartz  lắng đọng từng điểm ở thung lũng Sum Brak, có nguồn gốc  thủy nhiệt  và các kênh mạch phát triễn  ở các lỗ hổng  đá granit Phức Tạp Định Quán.  Opal  là quý kim  phát triễn khá nhiều ở sàn Túc Trưng, tìm thấy ở  thung lũng sông Đa Nhim, Đa Si Chu, Di Linh, Bù Ni Nhỏ ( ? ), Phú Hiệp;  kích thước từ vài chục cm đến 50- 60 cm ,  màu sửa, xám, vàng lợt hay nâu đỏ.  Tectit  dùng làm đồ  nữ trang  và nghệ thuật tinh vi  hình giọt nước mắt, hột đào lông, hình cầu hay thanh que, màu xám đậm, đen tuyền …  tìm được 7 lắng đọng quận tại Đà Lạt, Plang Dra, Cầu Đất,  Đức Trọng,Tân Phát, Đại Lao.  Ở nhóm  phóng xạ - radioactive group, nên phân biệt : nhóm đá Phóng xạ ở Dinh Dan ( ? )  theo mạch felsit  rộng 25 - 30m dài 16 50m ở sàn đá Đơn Dương.  Cường độ  phóng xạ  là 100 - 300 muy R/ giờ, cao nhất  là 7 900 - 1700 muy R/giờ, nồng lượng uranium là 86.4 g/ tấn, Th 13.7g/t , Ce  58.2 g/t, La 35.4 g/ tấn, TR 128.5 g/t .  Lắng đọng phóng xạ Quan Du  là trong tuf, porphya felsit, đá sỏi lăn tròn sulfur với cường độ phóng xạ  150- 200muyR/giờ , cao nhất 720 muy R / giờ, nồng lượng uranium 296gr/t …  Lắng đọng  Da Prenn  là  felsit porphyr ở các ven-mạch phía  Đông Bắc và Tây Nam  sàn đá phún lữa Đơn Dương. Nồng lượng uranium là 52.5g/t. Lắng đọng Gia Oa  có cường độ phóng xạ  80- 100 muyR / giờ, nồng lượng  uranium là 2.5g/t. Tưởng cũng không nên quên than non, than nâu - lignite, trử lượng là 8.6 triệu tấn  ở các sàn Di Linh, và các mỏ  lắng đọng ở Đại Lảo,  Đa Sro, Sam Brac , Dinh Trang Thượng, Lam Sơn. Và cuối cùng là than bùn- peat ở Lap Be, Đa Thiện, Kim Lê, Man Ling,Phí Liềng, hồ Chiến Thắng, An Bình, Đại  Lão.  Các mỏ than bùn Da Klou Kia, Kim Lê  chứa  lắng đọng lớn hơn cả và than bùn lọai tốt, cách thị trấn Di Linh chỉ  chừng  2km, giao thông tiện lợi, khai thác dễ dàng làm phân bón .

 

     Cũng cố, nâng cấp  hạ tầng cơ sở cho phát triễn bền vững hơn

   

     Giao thông

       Đường bộ Lâm Đồng dài 1700km  đến mọi xã ấp và gia cư. Quốc lộ 20 nay nối quốc lô 1A  Gia Kiệm tỉnh Đồng Nai  ngang qua Bảo  Lộc , rồi Di Linh đến Liên Khương , Đà Lạt. Quốc lộ 27 nối Phan Rang - Tháp Chàm tỉnh Ninh Thuận, ngang qua Đơn Dương ( Dran ) ( có đường  tỉnh lộ 41 lên Đà Lạt) qua Đức Trọng ( Liên Nghĩa ) đến Liên Sơn ( hồ Lak, tỉnh Đắc Lắc )  rồi  theo đường  52 qua  Giang Sơn đến Ban Mê Thuột ). Đường 28  nối  Phan Thiết ngang qua  Gia Bắc( Gia Bạc ? ) đến Di Linh  rồi tiến lên  Gia Nghĩa - Đắc Nông  đến Đắc  Song, Đắc Mil nối cùng quốc lộ 14. Đáng kể là  gần đây  là thiết lập dự án xa lộ cao tốc - express way Đà Lạt - Dầu Giây và Đường Tây Trường Sơn  từ Đà Lạt đến tỉnh Quảng Nam. Phi trường Liên Khương cách trung tâm thị xã Đà Lạt 30km, đang được  nâng cấp thành phi trường quốc tế có phi đạo dài 3250m, các máy bay cở trung bình như  A320, A321 hay tương đương có thể đáp xuống. Mỗi ngày đều có chuyến bay Liên Khương -  Sài Gòn, TP HCM. Đường bộ  phi trường Liên Khương  sẽ nâng cấp  thành  xa lộ cao tốc. Đường xa lộ mới số 723, nối Đà Lạt với Nha Trang, hai thành phố du lịch  lớn, sẽ được rút ngắn để bớt tốn  thì giờ  di chuyễn.  Chỉ 60 km đường sông Đồng Nai ở Lâm Đồng là tàu bè đi được vào mùa khô, phần lớn thuộc vùng Cát Tiên. Lâm Đồng có 8km  đường xe lữa dành cho du khách, từ TP Đà Lạt đến Trại Mát.

 

      Điện Lâm Đồng  và khuôn khổ Thủy điện Việt Nam

      Mạng lưới điện quốc gia  cung cấp đầy đủ điện  cho Lâm Đồng- Đà Lạt.  Hệ thống điện nay bao gồm  các nhà máy thủy điện Đa Nhim ( 160 000 Kw ), Suối Vàng ( 3000 Kw), Hàm Thuận - Đa Mi ( 475 000 Kw), Đại Ninh, giữa khúc đọan Đức Trọng - Di Linh đường 20 (  300 000 Kw ).  Các nhà máy thủy điện lớn khác là Đồng Nai 3 (môt tua bin 180 000 Kw ) khởi công năm 2004 và hòan tất  tháng 10 năm 2010 và Đồng Nai 4 ( hai tua bin 340 000 Kw ) đang xây dựng, chưa hòan tất, dù tháng giêng 2011 đã đào xong đường hầm đổ nước chạy máy dài 2350m, đường kính là 8m. Tháng 9 năm 2013 , Chánh phủ đã hoãn xây cất 2 đập Đồng Nai 6Đồng Nai 6A , vì 2 đập này có cơ  phá hủy 327 ha rừng, 128 ha này ở Công Viên Quốc Gia Cát Tiên phía Đông  Bắc TP HCM. Nhắc lại là Công viên  Cát Tiên  là nơi  có khỏang 1700 lòai cây hiếm quý nước nhà và hơn 700 lòai động vật và chim chóc cư ngụ, nhiều lọai bị nguy cơ tuyệt tích. Lâm Đồng hiện đã có 73 hồ nước nhân tạo và 92 đập thủy điện lớn, nhỏ .

       Cuối năm 2009,  33%  công xuất điện Việt Nam là thủy điện, 17 % là khí dầu - gas, 12 % là than đá, 6 % là dầu lữa. Năm 2010, Việt Nam sản xuất 119.1 tỉ Kwgiờ - Kwh. Nhắc lại là cuối năm 2012, Việt Nam  có 220 nhà máy thủy điện đang họat động, tổng công xuất là  13. 694  triệu Kw  và 211 nhà máy thủy điện đang xây cất, công xuất tổng cọng là 6. 713 triệu Kw . Nhưng tháng 5 năm 2013, Việt Nam đã hủy bỏ  338 nhà máy thủy điện, tổng công xuất là 1 099 triệu Kw, vì các nhà  máy này không hội đủ các tiêu chuẩn môi trường. Đến tháng 8 năm 2013 lai hủy bỏ hay ngưng thêm  67 dự án thủy điện khác nữa.  Sông Đồng Nai là sông lớn nhất tỉnh gồm ba nhánh chánh  là sông Đa Dung ( Đa Đang, Đá Dự ng ? ), sông La Ngà và  sông Đa Nhim. Sông Đồng Nai có tiềm  năng 15 % tổng thủy điện nước nhà, ước lượng là 270 tỉ  kwgiờ ( kwh ), sau Sông Hồng 50 %( sông Đà , sông Lô , sông Gấm )…   sông Se San , Srepok , sông Ba ở Tây Nguyên  ( đã đề cập khi lạm bàn tỉnh Gia Lai )30% tổng lượng … Đập thủy điện Sơn La trên sông Đà -Black River , huyện Mường La tỉnh Sơn La là đập lớn nhất nước. Và cũng  có nhà máy thủy điện lớn nhất ĐôngNam Á.  Đập cao 138m ( 453 bộ Anh ) và rộng 90m, dài 1000m ( 32300 bộ ).Dự án do Nga làm giúp ; nhà máy có 4 tua bin, mỗi tua bin công xuất 400 000 Kw ; như vậy  tổng công xuất  Sơn La là 2 400 000 Kw , phát xuất 10.  246 tỉ kw/ giờ.  Dự án đề nghị  vào  thập niên 1970.  Năm 2000,  Quốc Hội Việt Nam  ngưng  thiết lập đập,  vì thiếu thông tin tái định cư dân phải rời bỏ vùng hồ ngập thiếu chi phí bồi thường, mức khả thi dự án và  xét làm đập thấp hơn. Dự án mới được Quốc Hội chấp thuận  tháng12 năm 1 2002 . Tổng phí là 2 tỉ đôla Mỹ, USD, thuộc Công ty Điện Lực Việt Nam.  Bắt đầu xây đập tháng 12 năm 2005 , và họat động ngày 7 tháng giêng năm 2011;  thiết kế xong tua bin thứ tư ngày 22 tháng chạp năm 2011, tua bin thứ năm ngày 30 tháng tư năm 2012 và tua bin thứ sáu ngày26 tháng chín năm 2012. Dự án Sơn La hòan tất ngày 20 tháng 12 năm 2012. Sơn La ít tham vọng hơn là đập thủy điện Tam Điệp - Three Gorges Dam Trung Quốc, nay là đập thủy điện lớn nhất thế giới ( theo Asia Times , ngày 11 tháng 11 năm 2006). Ngòai thủy điện, còn có  nhà máy điện chạy  diesel công xuất   4000 Kw ở các thị trấn Bảo Lộc, Di Linh và Cần Răng ( ? ) và tỉnh cũng dự trù làm điện gió- wind power  nữa. Nay mạng lưới điện đã đưa điện tới hầu như khắp  mọi  thôn ấp tỉnh ( 96 % gia thất nông thôn năm 2010  đã có điện? ).  

    

      Nước

        Hệ thống cung cấp nước sạch cũng cải thiện  nhiều. Nhà máy nước Đà Lạt dung tích là 35 000 m3/ngày. Nhà máy thị trấn Bảo Lộc cung cấp 10 000 m3/ngày. Nhà máy huyện Đức Trọng 2500m3/ngày. Nhà máy huyện Di Linh  35003/ngày. Nhà máy Lâm Hà 6000m3/ngày. 7 nhà máy nước đang xây cất  ở các huyện  Đơn Dương, Lâm Hà, Dam Rong, Đa Huoai. Năm 2010,  75 % thôn ấp Lâm Đồng  đã có nước sạch.  Ngòai hệ thống nước sạch, tỉnh còn đang  xây cất  một hệ thống tòan diện chửa trị nước phế thải.  

     

    Bưu điện , viễn thông

    Nay Lâm Đồng, Đà Lạt có một hệ thống bưu điện và viễn thông  cận đại,  thỏa mãn nhu cầu phát triễn kinh tế xã hội  tỉnh nhà , kể luôn cả các nhà đầu tư.100% xã ấp đã có nối kết điện thọai. Tỉnh và thị xã hiện có 2 1007 000 máy điện thọai, cả đường dây lẫn điện thọai di động, trung bình 170 máy điện thọai cho 100 cư dân.  Ti vi đã đến với tất cả mọi người trong tỉnh. Số người thuê mua internet là 51 000.

 

     Khuynh hướng phát triễn kinh tế xã hội Lâm  Đồng các năm 2011- 2015

 

   Hướng phát triễn này nhắm vào sinh cường phẩm giá phát  triễn kinh tế xã hội, cố tạo  một đổi thay mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, áp dụng các tiên tiến khoa học kỷ thuật  trong sản xuất và xử lý - quản trị, đề xướng  phẩm gíá giáo dục và huấn nghệ, huy động các tài nguyên nhân sự, y tế, văn hóa và thể thao.

     Năm  2006, nông lâm chiếm đến 57.8 %GDP tỉnh, công nghệ xây cất 23.4 %  và dịch vụ chỉ là 18.8 %. Năm 2010, nông lâm trụt xuống chỉ còn  48.5 % GDP, công nghệ xây cất cũng trụt xuống 19. 9 %, nhưng dịch vụ đã  đạt 31. 6 %.  Tăng trưởng hàng năm  GDP tỉnh nhà các năm 2011 - 2015 là 15- 16 %,  trong đó nông lâm tăng 7.8 - 8.3  %,  xây cất- công nghệ  tăng 22.5- 24.1 % và dịch vụ  tăng 19-20%.  GDP năm  2011 tăng  15 - 16 %, nông lâm tăng 8.5 - 9.5% , công nghệ- xây cất  24-25 %  và dịch vụ   19-20%. Năm 2013, GDP tăng 15.6 - 16.7 % ; nông lâm   8- 8.5 % ; công nghệ - xây cất  24- 25 % và  dịch vụ  20-21 %. Năm 2014, dự liệu  GDP tăng 14. 4- 15.2 %; nông lâm 7.5 % ; công nghệ - xây cất   20.5- 22 % và dịch vụ  18- 19 % . Dự trù  GDP mỗi đầu người năm 2015  sẽ là  44.5 -46.2 triệu ĐVN hay 2 200 - 2300 $ USD , nghĩa là gấp đôi GDP mỗi đầu người năm 2010 . Thành phần cơ cấu kinh tế năm 2015 là nông lâm 36.8 -37 %, công nghệ -xây cất  26.8- 28% và dịch vụ  32.5- 35.8 %. Xuất khẩu tỉnh  tăng  26. 3 % / năm. Hy vọng năm 2015,  lợi tức xuất khẩu sẽ  là 800  triệu USD.  

 

   Phát triễn du lịch Lâm Đồng

  

   Tháng 3 năm 2013 , chánh phủ  chấp thuận dự án phát triễn du lịch Tây Nguyên đến năm 2020,  với cái nhìn xa đến năm 2030. Các mục tiêu nhắm vào năm 2030, biến du lịch Tây Nguyên thành một ngành công nghệ quan trọng, tạo các khích lệ tăng cường  các lảnh vực phát triễn các kinh tế khác, tích cực  góp phần  tăng trưởng kinh tế cho tòan thể Tây Nguyên  góp phần hửu hiệu chống đói giảm nghèo và phát triễn nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì  sức mạnh quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội và an tòan. Đặc biệt ngành du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt được xác nhận đóng vai trò then chốt, dẫn tới chiến lược  phát triễn du lịch địa phương. Du lịch địa phương đây  là hướng về  cũng cố Tây Nguyên với  các miền khác đất nước  và các nối kết quốc tế  phát triễn du lịch, tối đa tiềm năng và sức mạnh mỗi miền địa phương và tòan vùng.  Phát triễn đồng bộ  du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng núi; trong đó tụ điểm  trên du lịch văn hóa  cùng các hạt nhân của giá trị  văn hóa các tộc dân thiểu số Tây Nguyên, làm nền  móng cho phát triễn các thể dạng du lịch, phát triễn du lịch song song  với bảo tồn và  đề cao gía trị  văn hóa Tây Nguyên của các tộc dân thiểu số. Cùng lúc, khai thác  phát triễn  sản phẩm du lịch xanh, hầu tăng cường mức cạnh tranh và tụ điểm vào các phát triễn du lịch  căn bản cộng đồng, tạo cơ hội có công ăn việc làm ,giảm nghèo, hủy bỏ đói khổ trong khuôn khổ  một nước Việt Nam tân tiến, cận đại .

       Trên không gian du lịch, TP( nhưng do tỉnh quản trị)  Đà Lạt , tỉnh Lâm Đồng đã  được định nghĩa  là một nơi trọng điểm  nhờ các lực lượng đặc thù của hồ Tuyền Lâm  và hồ Đankia - Suối Vàng, chứa đựng những đặc điểm chủ trì  đúng quan điểm tài nguyên thiên nhiên, khai thác chánh thưởng ngọan, du lịch sinh thái, nghỉ ngơi và tiêu khiển, giải trí . Riêng Đà Lạt các sản phẩm du lịch chánh là  nghỉ dưỡng núi - hồ, du lịch sinh thái nông nghiệp cao kỷ, du lịch giải trí, đánh gôn,  thể thao phiêu lưu mạo hiểm, du lịch cuối tuần, tuần trăng mật, và lễ hội 4 Khóai- MICE (  thích hội họp meeting,  thích khích lệ - incentive, thích  đàm phán - conference , thích  Triễn lãm - exhibition ). TP Đà Lạ , theo dự án, đã được định nghĩa là  một thị trấn nghỉ dưỡng - resort city cho nhiều đường  du khách lui tới như Gia Nghĩa - Buôn Ma Thuột -  Pleiku- Kontum;  Sài Gòn, TP HCM và các tỉnh  Đồng Bằng Sông Cửu Long; TP HCM - Vũng Tàu  - Long Hải ; Di Linh - Phan Thiết - Long Hải - Vũng Tàu; Phan Rang - Nha Trang và các tỉnh duyên hải miền Trung : Hà Nội và các tỉnh miền Bắc ;  Buôn Ma Thuột - Kontum, - Lào …Chứa 8 điểm nóng  tiềm  năng theo dự án, 2 ở tỉnh Lâm Đồng  là Đăn Kia - Suối Vàng và Tuyền Lâm.

 

     Các vùng và cụm công nghệ

 

Lâm Đồng  hiện có 3 vùng công nghệ - IZ, Industrial  zones  và 14 cụm công nghệ - IC, industrial clusters  được chấp thuận xây cất hạ tầng cơ sở, tổng số tư bản đầu tư lên tới  958  tỉ ĐVN, trên diện  tích 663 ha. Năm 2010, đã có 15 dự án mới đăng ký, giúp cho các IZ  có tổng cọng là  53 dự án, tổng cọng tư bản đầu tư đăng ký là 4.2 ngàn tỉ ĐVN  + 43 tỉ $ USD và các IC có 30  dự án tổng số tư bản đầu tư đăng ký là 1.1 ngàn tỉ ĐVN. 3 vùng Công nghệ  IZ là  IZ Lộc Sơn, IZ Tân Phú và IZ Phú Hội. Các  cụm  công nghệ là  IC Gia Hiệp  ở xã Gia Hiệp ,huyện Di Linh; IC  Tân Châu  ở xã Tân Châu huyện Di Linh; IC Đa Oai, huyện Đa Huoai; IC Hà Lâm  ở thị trấn Đateh, huyện Đa Teh ; IC ĐaTeh  cũng ở thị trấn Đa  Teh; IC  Ka Do  ở xã Ka Do, huyện Đơn Dương;  IC Lộc Phát ở thị trấn Bảo Lộc ; IC Lộc Tiên cũng ở thị trấn Bảo Lộc ; IC Định Vân ở xã Đa Đôn, thị trấn Định Vân ; IC Đức Phổ ở xã Đức Phổ, huyện Cát Tiên; IC Lộc Thắng  ở thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm; IC  Lộc An ở  xã Lộc An, huyện Bảo Lâm; IC Phát Chi  ở xã Xuân Trường thị xã Đà Lạt; IC   Da R’ Sal  ở xã Đa  R’ Sal, huyện Đam Rong.  Gia Hiệp  là IC rộng lớn nhất Lâm Đồng, diện tích 644 ha  và  cuối năm 2013 đã có 6 dự án đầu tư họat động. Nhỏ nhất  là IC Phát Chi chỉ rộng 26 ha, và đến cuối năm  2013 IC Lộc An  vẫn chưa có dự án đầu tư nào cả.  

 

   Một nền nông nghiệp  áp dụng nhiều cao kỷ khoa học cập nhật