.
  Đồng bằng sông Cửu Long...
 
12/6/2014  

  

                                                                                                                                 Những sinh hoạt của loài người như tiêu thụ các nguồn năng lượng hóa thạch, thay đổi cách thức sử dụng đất đai và đốn phá cây rừng, làm gia tăng khối lượng khí nhà kính trong khí quyển, hâm nóng quả địa cầu và biến đổi khí hậu (BĐKH): lượng mưa thay đổi bất thường, thiên tai với cường độ mãnh liệt hơn và nhiệt độ không khí gia tăng, làm tan các tảng băng trên đỉnh những dãy núi cao, ở hai địa cực Bắc Nam, tuyết chảy và khối nước của đại dương giãn nở khiến mực nước biển dâng cao.

Ủy ban Liên Chánh phủ về BĐKH dự đoán mực nước biển của toàn cầu sẽ dâng cao 1-2m vào cuối thế kỷ XXI và nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về những tác động của nước biển dâng cao (NBDC) trên các quốc gia đang phát triển cho thấy đối với Việt Nam mực nước biển có thể dâng cao 1-3m vào nằm 2100. Thực vậy NBDC là điều đang xảy ra dọc theo bờ biển Việt Nam vì những theo dõi và đo đạt ở 4 trạm quan trắc Hòn Dầu, Đà Nẵng, Quy Nhơn và Vũng Tàu cho thấy mực nước biển của Việt Nam từ nhiều năm qua đã dâng cao với tốc độ 1.75- 2.56 mm/năm.

ĐBCL nằm trong khu nhiệt đới, đặc biệt với nền kinh tế nông nghiệpnăng suất của các loại hoa màu bị chi phối bởi nhiệt độ và độ ẩm, vì thế bị ảnh hưởng trầm trọng khi nhiệt độ không khí gia tăng và lượng mưa thay đổi do BĐKH; nhưng cũng là vùng đất thấp có độ cao trung bình + 2.0m, ở vùng ven biển có nơi chỉ cao 0.5m-1.0m so với mặt biển, trong khi đỉnh triều ở biển Đông hiện nay là 1.7m và ở vịnh Thái Lan phía Tây là 1.1m, vì thế ĐBCL cũng như châu thổ sông Nile (Ai Cập), sông Ganges/Brahmaputra (Bangladesh) là một trong 3  khu vực trên thế giới gánh chịu những tác động trầm trọng nhứt của NBDC.

A.   Những Tác động của NBDC trên ĐBCL

1.     Ảnh hưởng vào mùa khô: Ngập Triều

Mực nước của ĐBCL bị chi phối bởi nguồn nước thượng nguồn sông Mekong và thủy triều biển Đông và vịnh Thái Lan ở phía Tây. Vào mùa khô, lưu lượng sông Mekong  sụt giảm đáng kể (# 2000m3/s; chỉ bằng  1/20 của mùa mưa), mực nước sông Mekong xuống

thấp khiến nước mặn xâm nhập vào nội điạ và 1.7 triệu ha đất của ĐBCL, tương đương với  45% diện tích đất canh tác, bị nhiễm mặn.  Những năm gần đây tình trạng nước mặn xâm thực ở vùng ven biển  (Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang) ngày càng trầm trọng,  do khai thác nước ngầm  để canh tác và  dùng trong sinh hoạt gia đình; đào kinh thủy lợi và xây các đập thủy điện ở thượng nguồn. Trong những tháng 2-4, mặn 4g/l trên sông Hậu lên quá Đại Ngải 8-10 km và mặn 1g/l chỉ cách Cần Thơ 15km; trên sông Cổ Chiên mặn 1 g/l vượt quá rạch Vũng Liêm; trên sông Hàm Luông thượng lưu rạch Bến Tre 5-10 km nhiều năm không thể sử dụng nước cho sinh họat trên sông Tiền ranh giới mặn 4 g/l vượt quá Mỹ Tho 10 km.Trong tương lai dưới ảnh hưởng của NBDC tình trạng mặn xâm thực trở nên tồi tệ hơn: khi nước biển dâng 0.2m, vùng ngập mặn vĩnh viễn sẽ lấn vào nội địa thêm 25km và tiến thêm 50km khi nước biển dâng cao 0.45

                       

Sản xuất nông nghiệp trong nhiều năm qua ở ĐBCL đạt được những thành tựu to lớn một phần nhờ vào các biện pháp thủy lợi, những công trình ngọt hóa (bao gồm hệ thống đê biển, đê sông và các cống nguồn nước ngọt được dẫn vào các cửa nằm phía trên vùng xâm nhập mặn) như ở Măng Thít, Quản Lộ - Phụng Hiệp, Tiền Giang, Bến Tre. Khi nước biển dâng cao, mặn lấn sâu hơn trên các sông chính, và khi  vượt quá  ranh giới nơi thiết kế các cửa lấy nước ngọt, sẽ gây ra nguy cơ phá vỡ chức năng ngọt hóa của các công trình này và sản xuất nông nghiệp của khu vực sẽ theo đó bị sút giảm (Hình 1 & 2).